Sau Hiệp định Geneve
năm 1954, công tác vận động tập hợp giáo chức trong các trường công lập
và tư thục ở các thị xã, thị trấn… được các tỉnh uỷ và thị khu 8- Trung Nam Bộ quan tâm chỉ đạo.
 |
| Đoàn học sinh miền Nam dự đám tang anh Trần Văn Ơn. ảnh TL |
Trên 200 trường công lập và tư thục
trong toàn khu đã được xây dựng, cơ sở cách mạng. TP Mỹ Tho, thị xã
Giồng Trôm… là nơi xây dựng, phát triển được nhiều nòng cốt trong giáo
chức và xây dựng được chi bộ, chi đoàn thanh niên.
Nhiều anh chị em cựu kháng chiến, cựu
giáo chức không đi tập kết ở lại tiếp tục dạy học đã tham gia Hội Cựu
giáo chức và nghiệp đoàn giáo chức tư thục để có vị trí công khai hợp
pháp và đấu tranh bảo vệ lợi ích của giáo giới.
Trong giảng dạy, nhiều anh chị em đã khéo léo dùng những thơ ca yêu
nước, những bài báo tiến bộ hoặc tổ chức văn nghệ, tham quan di tích
lịch sử v.v… để giáo dục về truyền thống lịch sử dân tộc và lòng yêu
nước cho học sinh đạt kết quả tốt mà có nơi nhân dân gọi là “Trường Việt
Cộng” ở thành phố.
Phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống khủng bố bắt lính,
chống quân sự hoá học đường và đòi thi hành Hiệp định Geneve … diễn ra
thường xuyên và có lúc rất sôi nổi, quyết liệt. Năm 1954 -1955, hàng
trăm giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh của trường Lê Quý Đôn ở
Cao Lãnh đấu tranh ngăn chặn địch phá đài liệt sĩ, phá mộ cụ phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh của Bác Hồ do bộ đội ta xây dựng, buộc tỉnh
trưởng phải chấp nhận không dám phá mộ và đài liệt sĩ.
Ở thị xã Long Xuyên 5.000 học sinh xuống đường đấu tranh đòi dân sinh,
dân chủ, vạch mặt bọn phản động đội lốt giáo viên kết hợp với diệt trừ
ác ôn đã làm cho địch hoang mang. Một số giáo viên và học sinh làm biệt
động thành bị bắt rất kiên cường chống địch trước tòa án quân sự xét sử.
Địch đã kết án tử hình 2 giáo viên và chung tân khổ sai 7 học sinh.
Cuộc đồng khởi năm 1960 đã giải phóng được nhiều vùng rộng lớn, liên
hoàn, xã liền xã, huyện liền huyện. Nhiệm vụ xây dựng và phát triển giáo
dục ở vùng giải phóng trở thành nhiệm vụ trọng thâm của toàn ngành giáo
dục.
Tiểu ban Giáo dục khu đã khẩn trương, liên tục mở các lớp sư phạm đào
tạo các cấp tốc hàng trăm giáo viên dạy cấp I và II cho các tỉnh. Các
tỉnh đã kịp thời phát động phong trào xóa mù chữ, bổ túc văn hóa và xây
dựng trường phổ thông để đáp ứng yêu cầu học tập của nhân dân.
Tính đến đầu năm 1962, toàn khu có vài ngàn lớp học với trăm ngàn học
sinh cấp I, đông nhất là Bến Tre (60.000) và Mỹ Tho (25.000). Ở Kiến
Tường, phong trào “chia chữ cho dân”, “học đến đâu dạy đến đó”… đã thành
công trong thực hiện chương trình xóa mù chữ, bổ túc văn hóa và dạy phổ
thông cho học sinh lớp 1- 3’ hoặc mở lớp dạy văn 10 ngày để làm báo
cáo, dạy 4 phép toán để báo cáo thu chi tài chính.
Ở Kiến Phong, đào tạo được 136 giáo viên, mở được 40 trường học ở xã, ấp
giải phóng với trên 2.340 học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 và bổ túc văn hóa
cho 1.455 cán bộ chiến sĩ.
Ở Bến Tre với hơn 700 xã giải phóng đã xây dựng được 915 lớp học với
hơn 800 giáo viên và 60.000 học sinh phổ thông. Mỗi huyện có trường cấp
II, tỉnh có trường cấp III và xây dựng được 20 trường bổ túc văn hóa cho
cán bộ chiến sĩ.
Riêng huyện Mỏ Cày có một số trường
liên xã với trên 1.750 học sinh. Đã có trên 9.000 học sinh tốt nghiệm
cấp II, III tình nguyện đi bộ đội và thanh niên xung phong. Tại hội nghị
tổng kết giáo dục miền năm 1964, Trung ương đã tặng thưởng Huân Chương
giải phóng hạng ba cho phong trào giáo dục Bến Tre.
 |
| Học sinh đội mũ rơm đi học. ảnh TL |
Trong thời kỳ triển khai chiến lược "chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa
chiến tranh" địch tăng cường càn quét đánh phá ác liệt vùng giải phóng
của ta. Phong trào giáo dục ở vùng giải phóng đương đầu với nhiều khó
khăn, ác liệt. Trường học là mục tiêu ném bom, đánh phá thường xuyên của
địch. Một số trường học bị đốt phá và giáo viên học sinh bị bắn giết.
Để duy trì trường lớp, nhiều xã đã thực hiện tốt chủ trương: “nhân dân
bám đất, cán bộ bám dân và du kích bám địa bàn”, giữ vững thế công khai
hợp pháp của dân, xây dựng xã, ấp đã duy trì được trường lớp, bảo đảm
được yêu cầu học tập của con em nhân dân. Trường lớp được tổ chức lại
cho phù hợp, có công sự hầm hào, có nơi phải học ban đêm hoặc học trong
nhà dân. Trường Cấp II, III, học sinh lớn tuổi được trang bị vũ khí, lựu
đạn và giáo viên vừa dạy học, vừa chiến đấu, bắn hạ máy bay địch được
tặng thưởng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”. Ở Kiến Tường, Long An, “Trung
đội nữ pháo binh” là một điển hình rất tiêu biểu – giáo viên vừa dạy
học, vừa chiến đấu, nhiều chị em đã trưởng thành và lập được nhiều chiến
công xuất sắc.
Tập thể đội ngũ cán bộ giáo dục khu và các tỉnh được tôi luyện trong
chiến tranh đã trưởng thành và kiên định vững vàng trong chiến đấu, cán
bộ giáo dục tại chỗ và cán bộ giáo dục ở miền Bắc được Trung ương tăng
cương đều đoàn kết thương yêu nhau, cùng chia sẻ khó khăn, kiên trì bám
dân, bám đất, bám chiến trường công tác và chiến đấu, kể cả các đồng chí
được tổ chức phân công vào hoạt động ở nội thành, hoặc làm công tác
tuyên truyền xung phong ở thành phố Mỹ Tho, có rất nhiều khó khăn nhưng
các đồng chí đều hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chiến trường. Các đồng chí bị
địch bắt giam cầm, tra tấn dã man ở Phú Quốc, Côn Đảo vẫn một lòng
trung thành với Đảng, chiến thắng trở về.
Anh Phạm Văn Bé - Ủy viên Ban Tuyên
huyến khu ủy, Trưởng Tiểu ban Giáo dục khu là một cán bộ khiêm tốn, mẫu
mực đã hy sinh cùng với nhiều tấm gương của cán bộ giáo dục khu, tỉnh đã
để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc trong công tác và chiến đấu.
Tất cả những thành tựu của giáo dục và các tỉnh trong 15 năm xây dựng và
phát triển là những cống hiến rất quan trọng, là một trang sử vẻ vang
của Đảng bộ và nhân dân khu 8- Trung Nam Bộ đối với sự nghiệp chống Mỹ,
cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Nguyễn Văn Hanh (Tám Danh)
Nguyên khu ủy viên – Phó Ban Tuyên huấn
Khu ủy khu 8 – Trung Nam bộ