Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển đã nhấn mạnh như vậy khi phát biểu ý kiến tại Hội nghị giao ban các Sở GD&ĐT vùng I lần thứ hai năm học 2010 – 2011, diễn ra sáng nay ngày 3/4/2011 tại thành phố Lạng Sơn (tỉnh Lạng Sơn). Hội nghị có sự tham dự của ông Tô Hùng Khoa – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn, ông Trần Công Phong – Chủ tịch Công đoàn GD Việt Nam; lãnh đạo Văn phòng, các Vụ, Cục chức năng Bộ GD&ĐT; lãnh đạo Sở, đại diện các phòng, ban chức năng, Công đoàn GD của 15 Sở GD&ĐT thuộc vùng thi đua số I.
Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển chủ trì Hội nghị
Khắc phục cơ bản tình trạng học ca 3
Năm học 2010 – 2011 diễn ra trong bối cảnh cuộc khủng
hoảng và suy giảm kinh tế thế giới diễn ra phức tạp và gay gắt, giá cả có nhiều
biến động ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống của nhân dân. Cả 15 tỉnh miền
núi phía Bắc thuộc vùng thi đua số I còn bị ảnh hưởng nặng nề do thiên tai, đặc
biệt là đợt rét đậm rét hại kéo dài trước tết Tân Mão và đợt rét tháng 3 vừa
qua đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của nhân dân, qua đó
ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều cơ sở GD; đặc biệt trong bối cảnh nhiều tỉnh
trong vùng, nhất là ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít
người còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các huyện, các xã thuộc
diện đặc biệt khó khăn còn nhiều.
Khắc phục các khó khăn đó, điều đáng ghi nhận là các Sở GD&ĐT trong vùng
ngay từ đầu năm học đã có những định hướng chỉ đạo kịp thời để triển khai thực
hiện nhiệm vụ năm học phù hợp với đặc điểm của từng địa phương mình, trên cơ sở
bám sát chủ đề “Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo
dục”, trong đó với đặc thù của vùng, công tác giáo dục tâm tộc được coi là
trọng tâm và nhận được sự quan tâm đặc biệt ở tất cả các cấp, các ngành trong
mỗi địa phương. Báo cáo kết quả triển khai nhiệm vụ học kỳ 1 và phương hướng
học kỳ 2 năm học 2010 – 2011 do ông Bùi Đức Cường – Giám đốc Sở GD&ĐT Thái
Nguyên, đơn vị Trưởng vùng – cho biết một tín hiệu đáng mừng là mặc dù chịu sự
ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới nhưng việc đầu tư cho GD&ĐT vẫn
được Đảng và Chính phủ hết sức quan tâm, nhất là đối với các địa phương còn
nhiều khó khăn như 15 tỉnh miền núi phía Bắc. Nhờ đó, hệ thống quy mô mạng lưới
trường, lớp, quy mô học sinh tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu học tập của
con em đồng bào các dân tộc, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
Để chuẩn bị cho năm học 2010 – 2011, các Sở GD&ĐT đã phối hợp với các
ngành, các cấp chính quyền địa phương, các lực lượng xã hội tăng cường CSVC,
trang thiết bị dạy học. Các cơ sở GD triển khai việc tu sửa CSVC, tăng cường
xây dựng phòng học mới, sửa phòng học đã xuống cấp, bổ sung thiết bị, đồ dùng
dạy học tập. Kết quả đến hết học kỳ 1, toàn vùng đã xây mới được 7.808 phòng
học; sửa chữa được 6.145 phòng học. Nhìn chung cho đến thời điểm này, các tỉnh
đã khắc phục được cơ bản tình trạng học ca 3.
Tuy nhiên ở một số tỉnh, trên địa bàn vùng sâu vùng xa vẫn chưa khắc phục được
tình trạng thiếu phòng học (Điện Biên, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn...).
Hiệu quả từ những sự đầu tư đúng hướng
Để
tăng cường các nguồn lực xây dựng CSVC cho GD, các Sở GD&ĐT được triển khai
Dự án THCS vùng khó khăn nhất đã đầu tư xây dựng phòng học, thí nghiệm, thư
viện, phòng ở bán trú cho HS, giáo viên và công trình phụ trợ khác. Các Sở
GD&ĐT tiếp tục thực hiện Đề án kiên cố hóa trường, lớp và nhà công vụ cho
giáo viên giai đoạn 2008 – 2012, chương trình mục tiêu quốc gia về GD&ĐT.
Trong số ngày, Quảng Ninh đã đi đầu trong 15 tỉnh miền núi phía Bắc khi hoàn
thành kế hoạch trước 2 năm so với Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công
vụ cho giáo viên giai đoạn 2008 – 2012 theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày
01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, 70% trường, lớp học trên địa bàn
tỉnh đã được kiên cố hóa. Ngoài ra, các tỉnh như Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú
Thọ... cũng được đánh giá là những tỉnh triển khai tốt Đề án.
Các Sở GD&ĐT cũng đã chỉ đạo đầu tư để mua sắm thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy và học tập ngay từ đầu năm học từ cấp mầm non trở đi; bên cạnh đó
thực hiện cung ứng sách phát cho giáo viên, HS thuộc diện chính sách và HS
thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sách cho thư viện
trường phổ thông, sách đổi mới chương trình GD mầm non.
Bên cạnh việc tăng cường đầu tư CSVC, thiết bị trường học, các phong trào thi
đua, các cuộc vận động lớn cũng được các Sở GD&ĐT đẩy mạnh. Đặc biệt phải
kể đến cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và
phong trào “3 đủ” đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng GD, thu
hút HS đến lớp, khắc phục và giảm thiểu tình trạng HS bỏ học (số HS phổ thông
trong toàn vùng bỏ học học kỳ 1 so với đầu năm học là 8792/186.978, chiếm 0,4%,
giảm 0,11% nếu so với cùng kỳ năm học 2009 – 2010 có tỷ lệ HS bỏ học là 0,51%).
Học kỳ 1 năm học 2010 – 2011 cũng ghi nhận nhiều dấu hiệu tích cực của GD 15
tỉnh thuộc vùng thi đua số I như chất lượng GD ngày càng được củng cố, tỷ lệ
HSG ngày càng tăng, đặc biệt kết quả kỳ thi chọn HSG quốc gia lớp 12 năm học
này của cả vùng có 398 HS đạt giải HSG quốc gia, các tỉnh không thường xuyên
xuất hiện trên danh sách các tỉnh có HSG quốc gia như Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La
cũng có HS đoạt giải HSG quốc gia trong kỳ thi vừa qua. Đó là sự khẳng định
không thể tốt hơn về chất lượng GD mà các tỉnh trong vùng đã và đang đạt được.
Trường bán trú và học sinh bán trú – Một trong những vấn đề “nóng”
Thực hiện đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, cung
ứng SGK và TBDH, xây dựng trường bán trú, chế độ cho HS bán trú, chế độ và định
mức trong đề án dạy học 2 buổi/ ngày, Đề án thí điểm dạy tiếng Anh ở tiểu học,
phổ cập GD mầm non 5 tuổi, xúc tiến thành lập phòng GD Dân tộc, chế độ chính
sách thu hút cho giáo viên tình nguyện ở lại vùng sâu vùng xa sau 5 năm... là
những vấn đề được đại diện các Sở GD&ĐT nêu ra trong nội dung thảo luận của
Hội nghị. Trong đó, với đặc thù của vùng (về dân cư, về đại bàn), vấn đề trường
bán trú và HS bán trú một trong những vấn đề tập trung các ý kiến kiến nghị
nhất. Hầu hết các ý kiến kiến nghị, đề xuất đã được đại diện các Vụ, Cục chức
năng của Bộ GD&ĐT giải đáp thỏa đáng hoặc ghi nhận ngay tại Hội nghị.
Ghi nhận tại Hội nghị cho thấy hầu hết các ý kiến đều đề xuất Bộ GD&ĐT
nghiên cứu, bổ sung Quy chế hoạt động của trường phổ thông bán trú theo Thông
tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02/8/2010: đưa học sinh THPT vào đối tượng được
hưởng chế độ bán trú để tạo điều kiện cho những HS có hoàn cảnh gia đình khó
khăn có điều kiện tiếp tục theo học.
Về chế độ HS bán trú, theo Quyết định 85/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng
Chính phủ về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ HS bán trú: “đối tượng được
hưởng chính sách hỗ trợ: HS bán trú đang học tại các trường phổ thông DT bán
trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và các trường tiểu
học, trường THCS công lập khác ở vùng này do nhà ở xa trường, địa hình cách
trở, giao thông đi lại khó khăn không thể đi đến trường và trở về nhà trong
ngày”. Ý kiến của đa số lãnh đạo các Sở GD&ĐT cho biết học sinh TTGDTX và
THPT ở các vùng này không được hưởng chế độ như các đối tượng trên; do đó đề
nghị thêm đối tượng được thụ hưởng chế độ chính sách HS bán trú các trường
THPT, học viên bán trú các TTGDTX.
Liên quan đến tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú,
một số ý kiến cũng đề nghị cần quy định rõ định mức biên chế nhân viên nuôi
dưỡng HS, với đề xuất điều chỉnh bổ sung định mức 1 nhân viên nuôi dưỡng trên
50 HS...
Các
cơ sở GD phải phát huy được quyền chủ động của mình
Phát biểu kết luận Hội nghị, bên cạnh việc ghi nhận các kết quả đạt được của
GD&ĐT 15 tỉnh vùng 1 cũng như những ý kiến đề xuất, Thứ trưởng Nguyễn Vinh
Hiển đã trao đổi về các vấn đề nổi cộm như: việc thực hiện các phong trào thi
đua, các cuộc vận động, chế độ chính sách cho giáo viên vùng khó, việc đánh giá
giáo viên và cán bộ quản lý, biên chế giáo viên cho các trung tâm học tập cộng
đồng, vấn đề trường bán trú, xây dựng điểm trường... Thứ trưởng lưu ý chủ động
vẫn là ở các địa phương với sự tham mưu của các cơ sở GD, tùy theo tình hình và
điều kiện địa phương mình.
Về vấn đề kiên cố hóa trường lớp học đã đạt được một số kết quả ban đầu nhưng
trên thực tế vẫn chưa đáp ứng hết yêu cầu. Về vốn đầu tư, các địa phương cũng
phải có sự chủ động trên cơ sở kinh phí Trung ương cấp và khả năng có thể của
địa phương để phục vụ nhu cầu GD. Việc luân chuyển giáo viên ở vùng khó cũng
phải có sự chủ động của các địa phương, nhưng tinh thần vẫn là ổn định hơn luân
chuyển. “Ổn định đội ngũ là giải pháp trước hết, bên cạnh việc bảo đảm chính
sách cho giáo viên công tác. Các Sở GD&ĐT phải nghiên cứu cụ thể về vấn đề
biên chế, về nhu cầu công tác của giáo viên để giữ vững được sự ổn định của cơ
sở GD, nhưng phải bảo đảm được việc công bằng trong luân chuyển và chế độ chính
sách cho giáo viên vùng khó”, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển lưu ý.
Đối với đề án dạy học ngoại ngữ, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc xây dựng đội ngũ giảng dạy đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là giáo
viên tiếng Anh cho tiểu học. Đây là vấn đề khó khăn chung của cả nước, nhưng
Thứ trưởng cũng đề nghị các địa phương bằng mọi cách khắc phục khó khăn, cố
gắng thúc đẩy nhanh việc đào tạo đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu triển khai
hiệu quả đề án, với mục tiêu đưa năng lực ngoại ngữ của HS nói riêng, người
Việt Nam nói chung sớm đạt được tầm khu vực, hướng tới mục tiêu 2020 thanh niên
Việt Nam có thể nói và viết được tiếng Anh. Chuẩn giáo viên, chuẩn chương trình
đã có, Thứ trưởng yêu cầu địa phương nào đáp ứng được các “chuẩn” này, nhất là
về chuẩn đội ngũ giáo viên, mới tiến hành triển khai; đặc biệt không nóng vội,
không đốt cháy giai đoạn trong triển khai dạy học ngoại ngữ.
Về bố trí giáo viên phục vụ đề án, cũng như một số chương trình GD khác (như
dạy học 2 buổi/ngày), Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cũng nêu rõ quyền chủ động
cũng thuộc về cơ sở GD và Phòng GD&ĐT địa phương, trên cơ sở khả năng và điều kiện
sẵn có của mình để triển khai hiệu quả.
| Tính hết học kỳ 1 năm học
2010 – 2011, toàn vùng I có 2.156/9.074 trường mầm non và trường phổ thông đạt
chuẩn quốc gia (đạt 23,76%). Tỉnh Bắc Giang và Thái Nguyên là 2 tỉnh có tỷ lệ
đạt chuẩn quốc gia cao nhất vùng với tỷ lệ đạt trên 50%. 2 tỉnh có số trường
đạt chuẩn quốc gia trên 30% là Quảng Ninh và Phú Thọ. Các tỉnh còn gặp nhiều
khó khăn trong quá trình xây dựng trường chuẩn quốc gia là: Cao Bằng, Bắc Kạn,
Hà Giang, Sơn La, Lai Châu. |
• LTH (Theo báo GD&TĐ)