I. Cấu tạo màng sinh chất
1. Thành phần
hoá học
của màng
a.. Lipid
Lipid trong màng chủ yếu có hai dạng:
- Dạng
lipid phân cực (ưa nước)
- Dạng lipid trung tính (kỵ
nước)
Đối
với tế bào động vật (hồng cầu, mô...), lipid chiếm 40 - 50% trọng lượng khô.
Trong đó, dạng phân cực gồm có phospholipid chiếm 80% tổng số lipid, sphingolipid. Trong các loại lipid trung tính có cholesterol và acid béo tự do
là quan
trọng hơn cả.
b. Protein
Hàm lượng protein thay đổi tuỳ theo từng loại màng, ví dụ màng tế bào cơ có 65%, màng
tế bào gan có 85%.
c.. Gluxit
Các gluxit thường gặp
trong màng tế bào gồm:
- Polysaccharide có ở màng tế bào động vật. bào.
- Olygosaccharide mọc trên các đảo protein.
Ngoài ra, các gluxit còn kết hợp với lipid và pritein
để tạo nên glycoprotein và glycolipid.
d. Các chất khác
- Dạng
các ion liên kết cố định với cấu trúc màng, quan
trọng nhất là Ca++,
ngoài ra còn có Mg++, K+, Na+.
- Dạng các ion tự do di chuyển qua màng, hoặc tham gia vào các quá trình trao đổi chất xảy ra trong thành phần cấu trúc màng.
- Nước: nước trong tế bào tồn tại dưới hai dạng tự do và liên kết. Nước liên kết quan trọng nhất là nước liên kết với lipoprotein. Phần nước này không bị mất đi ngay cả
khi ta sấy khô tế bào.
2. Cấu trúc
phân tử của màng sinh chất
Thành phần chủ yếu của màng sinh chất là lipid và protein, vì vậy, để có thể tìm
hiểu được cấu trúc phân tử của màng sinh chất, trước hết xét mối quan hệ giữa lipid và
protein.

- Các protein nằm ở mặt ngoài (protein ngoại biên) thì khác với protein
nằm ở mặt trong,
một số màng hoàn toàn không có protein ngoại biên.
- Các protein định vị một phần hoặc hoàn toàn nằm trong lớp kép
phospholipid (nội protein), có những vị trí như
sau:
+ Một số nằm
hoàn toàn trong lớp kép
phospholipid.
+ Một số khác
có một phần đi qua bề mặt màng.
+ Một số khác có một nửa nằm ngoài lớp kép phospholipid, nữa khác nằm ở nửa
trong lớp kép phospholipid.
- Các protein sợi
nằm một
phần
trong màng hoặc xuyên qua màng.
Một số xuyên qua toàn bộ lớp kép phospholipid, nối với môi trường nước ở cả hai mặt.Lớp kép phospholipid tạo nên phần chính của màng. Trong màng nguyên sinh chất ở các cơ thể bậc cao, ngoài phospholipid, còn có cholesterol.
Các protein cũng có thể chuyển động, nhưng chậm hơn nhiều so với phospholipid.
Có một số loại protein của màng bị gắn chặt vào một chỗ, do đó sẽ làm hạn chế tính linh hoạt của màng
Mặc
dù mô hình khảm lỏng của Singer và Nicolson đã thuyết phục nhiều người, nhưng hiện nay, nhờ có phương pháp nghiên cứu hiện đại, các nhà khoa học đã làm sáng
tỏ thêm cấu trúc của màng. Theo quan điểm hiện đại, màng sinh chất cũng được cấu tạo
bởi lớp kép lipid và protein, cũng có thể là sợi, hình cầu và phân bố linh động ở các vị trí khác
nhau.
- Lớp phân tử kép lipid: gọi
là lớp phân tử kép lipid vì lớp này gồm hai lớp phân tử
lipid áp sát nhau, làm nên cấu trúc cơ bản hình vỏ cầu bao bọc quanh tế bào, chính vì vậy mà lớp phân tử lipid kép được gọi là phần màng
cơ bản của màng sinh chất.
Các phospholipid: các phospholipid, nói chung, rất ít tan trong nước. Có rất nhiều loại phospholipid, chúng chiếm khoảng 55% trong thành phần lipid của màng.
Các loại phân tử này xếp xen kẽ với nhau, từng phân tử có thể quay xung quanh chính trục của mình và đổi chỗ cho các phân tử bên cạnh hoặc cùng một lớp phân tử theo
chiều ngang. Sự đổi chỗ này là thường xuyên. Chúng còn có thể đổi chỗ cho nhau tại hai lớp phân tử đối diện nhau, nhưng trường hợp này rất hiếm xảy ra so với sự đổi chỗ theo chiều ngang. Khi đổi chỗ sang lớp màng đối diện, các phospholipid phải cho phần đầu ưa nước vượt qua lớp tiếp giáp kỵ nước giữa hai lá màng, cho nên có sự can thiệp của một hoặc một
số protein màng.
Cholesterol: là
loại phân tử lipid nằm xen kẽ các phospholipid và rải rác trong hai
lớp màng. Cholesterol chiếm từ 20 - 30% thành phần lipid của màng và màng tế bào là loại màng sinh chất có tỉ lệ cholesterol cao nhất. Tỉ lệ
cholesterol càng cao thì màng càng cứng và bớt tính lỏng linh động. Cholesterol làm cho màng thêm vững chắc (những dòng tế bào đột
biến không có khả năng tổng hợp
cholesterol nên bị tan đi nhanh do màng lipid
không tồn tại được). Thành phần còn lại của lipid là glycolipid
(khoảng 18%) và acid béo
kỵ nước (khoảng 2%) (hình 5.5).
- Các phân tử protein màng tế bào: màng lipid đảm nhận phần cấu trúc cơ bản, còn các chức năng đặc hiệu của màng thì phần lớn do các phân tử protein
đảm nhiệm. Cho đến nay, người ta đã phát hiện trên 50 loại protein màng (cùng có trên một màng duy
nhất). Tỉ lệ protein trên lipid là xấp xỉ 1 ở màng
tế bào hồng cầu.
Căn
cứ vào cách liên kết với màng lipid, người ta chia protein
màng ra 2 loại:
protein xuyên màng và protein ngoại vi.
Protein xuyên màng: gọi là xuyên màng vì phân tử protein có một phần nằm xuyên suốt màng lipid
và 2 phần đầu của phân tử thì thò ra hai phía bề mặt của màng.
Protein màng ngoại vi: loại này chiếm khoảng 30% thành phần protein màng, gặp ở mặt ngoài hay mặt trong màng tế bào. Chúng liên kết với đầu thò ra 2 bên màng của các
protein xuyên
màng.
Tế bào ung thư có tiết ra protein này nhưng không giữ được nó trên bề mặt của
màng tế bào. Sự mất khả
năng bám dính này tạo điều kiện
cho tế bào ung thư di cư.
- Cacbohydrat màng tế bào:
cacbohydrat có mặt ở màng tế bào dưới dạng các
olygosaccharide. Các olygosaccharide gắn vào các
đầu
ưa nước của các protein thò ra
ngoài màng. Đầu ưa nước của khoảng 1/10 các phân tử lipid màng (lớp phân tử ngoài)
cũng liên kết với các olygosaccharide. Sự liên kết với các olygosaccharide được gọi là sự
glycocyl hoá - biến protein
thành glycoprotein và lipid thành
glycolipid.
- Áo tế bào (cell coat): cả ba thành phần: lipid
màng, protein xuyên màng và protein ngoại vi.
3.Chức năng của màng tế
bào
3.1. Chức năng
bảo vệ
a. Bảo vệ cơ
học
Màng tế bào đóng vai trò là bức tường kiên cố ngăn cách tế bào với môi trường ngoài, bảo vệ các vật chất chứa trong tế bào được ổn định, bảo vệ tế bào khỏi những tác động cơ học của môi trường ngoài. Tất nhiên, bức tường
này không cố định, cứng rắn mà rất mềm dẻo, linh hoạt có thể thay đổi hình
dạng, có thể chuyển động, có thể đổi mới thành phần sinh hóa của mình.
b. Bảo
vệ về mặt sinh lý
Màng đóng vai trò điều hòa dòng trao đổi từ ngoài vào và
trong ra. Nhờ đó mà nó ngăn cản không cho các vật lạ, các kẻ thù xâm nhập vào
tế bào.
Khi kẻ thù đã xâm nhập vào cơ
thể, nó có nhiệm vụ bắt giữ và đào thải
chúng ra. Ví dụ lymphocyte có nhiệm vụ tiêu diệt kẻ thù của cơ thể.
3.2. Chức năng
thông tin - miễn
dịch
Theo Minhina (1978) thì chính các loại đường như oligosaccharide, ganglyoside có trong màng có khả năng tiếp nhận những thông
tin đa dạng và phức tạp từ môi trường ngoài. Các thông tin mà tế bào nhận được là các chất hóa học, hoocmon, virus... và ngay cả các yếu tố gây bệnh cũng tương tác với oligosaccharide. Cũng nhờ các đường này mà cơ thể nhận biết được những tế bào của mình và phân biệt được tế bào lạ. Chính điều này đã giải thích được sự
không dung nạp miễn dịch
trong nuôi cấy mô.
3.3. Chức năng trao đổi
chất
Màng tế bào là nơi thực hiện sự trao đổi chất của tế bào. Hoạt tính trao đổi chất của màng thể hiện rõ nhất ở màng ty thể, màng mạng lưới nội sinh chất, màng
của phức
hệ Golgi.
3.4. Chức năng
vận
chuyển các chất qua màng
Chức năng quan trọng hàng đầu của màng tế bào là điều hòa sự qua lại của các chất giữa bên trong và bên ngoài tế bào. Tất cả các chất di chuyển vào hoặc ra khỏi tế bào đều phải
qua vật cản là màng và màng của mỗi loại tế bào có chức năng chuyên biệt để cho
chất
nào đi qua, với tốc độ nào và theo hướng nào. Tế bào thực hiện việc vận chuyển các chất qua màng bằng các quá trình tự nhiên như: khuyếch tán, thẩm thấu, sự vận chuyển tích cực,
quá trình thực bào (phagocytosis) và quá trình uống bào (pinocytosis).
-
Sự vận chuyển qua màng được thực hiện thông qua 3 hình thức chính: (1)vận
chuyển thụ động (passive transport), không tiêu tốn năng lượng, (2) vận chuyển
chủ động (active transport), cần tiêu tốn năng lượng và (3) hình thức vận
chuyển bằng các túi (vesicular transport).
3.4.1
Các hình thức vận chuyển thụ động
a. Khuếch tán đơn giản (simple
diffusion)
- Khuếch tán đơn giản là hình thức
khuếch tán trong đó các phân tử vật chất được vận chuyển từ nơi có nồng độ cao
đến nơi có nồng độ thấp và không tiêu tốn năng lượng.
- Các phân tử tan trong lipid như
oxygen, doxide carbon, nitrogen, các steroid, các vitamin tan trong lipid như
A, D, E và K, glycerol, rượu và ammonia có thể đễ dàng đi qua lớp phospholipid
kép của màng bào tương theo cả 2 phía bằng hình thức này. Tốc độ khuếch tán của
chúng tỷ lệ thuận vào khả năng tan trong lipid của các phân tử.

- Các phần tử có kích thước nhỏ không
tan trong lipid cũng có thể khuếch tán qua màng theo hình thức này thông qua
các kênh như các ion Na+,K+,Ca2+,Cl-,HCO3- và urê. Tốc độ khuếch tán của chúng tỷ lệ
thuận với kích thước phân tử, hình dạng và điện tích của các phần tử.
- Nước không những dễ dàng đi qua lớp
phospholipid kép mà còn khuếch tán qua các kênh này.
b. Hiện
tượng thẩm thấu (osmosis)
- Hiện tượng thẩm thấu là hiện tượng vận
chuyển thụ động của các phân tử nước từ nơi có nồng độ nước cao (có nồng độ chất
hòa tan thấp) tới nơi có nồng độ nước thấp (có nồng độ chất hòa tan cao). Một
dung dịch có nồng độ các chất hòa tan càng
cao thì áp lực thẩm thấu càng lớn và ngược lại.
c. Hiện tượng khuếch tán qua
trung gian (facilitated diffusion)

- Hiện tượng
khuếch tán qua trung gian là hiện tượng
khuếch tán của các chất từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp nhờ vai
trò trung gian của các protein đóng vai trò chất vận chuyển trên màng bào
tương. Tốc độ của kiểu khuếch tán này phụ
thuộc vào sự khác biệt về nồng độ của chất được vận chuyển ở hai bên màng và số
lượng của các chất vận chuyển đặc hiệu.
-
Trong cơ thể các ion, urê, glucose, fructose, galactose và một số vitamin không
có khả năng tan trong lipid để đi qua lớp phospholipid kép của màng sẽ di
chuyển qua màng theo hình thức này.
3.4.2. Các hình thức vận chuyển chủ
động
-
Hình thức vận chuyển chủ động là hình thức vận chuyển tiêu tốn năng lượng ATP
nhằm đưa các chất đi ngược lại chiều gradient nồng độ của chúng.
-
Hình thức vận chuyển này được thực hiện qua vai tròì của các protein xuyên màng
đặc hiệu đóng vai trò như các bơm hoạt động nhờ ATP để đẩy các ion như Na+, K+, H+, Ca2+, I-, Cl- hoặc
các phân tử nhỏ như các acid amin, các
monosaccharide đi ngược lại chiều gradient nồng độ của chúng.
a. Vận chuyển chủ động nguyên phát (primary
active transport)
-
Vận chuyển chủ động nguyên phát là hình thức vận chuyển trong đó năng lượng từ
ATP được sử dụng trực tiếp để "bơm" một chất qua màng theo chiều
ngược với chiều gradient nồng độ.
-
Tế bào sẽ sử dụng năng lượng này thay đổi hình dạng của các protein vận chuyển
trên màng bào tương để qua đó thực hiện việc vận chuyển. Khoảng 40% ATP của tế
bào phục vụ cho mục đích này.
- Bơm natri là một ví dụ điển hình cho hình thức vận
chuyển nguyên phát:

+
Quá trình hoạt động của bơm có thể chia làm hai giai đoạn:
(1)
Khi ba ion Na+ và ATP gắn ở phía mặt trong của bơm, một nhóm phosphate
được chuyển từ phân tử ATP tới gốc acid aspartic của tiểu phần α. Sự có mặt của
nhóm phosphate giàu năng lượng sẽ làm thay đổi cấu trúc của bơm làm chuyển 3
ion Na ra phía ngoài tế bào.
(2)
Khi 2 ion K+
gắn vào phía mặt ngoài tế bào, liên kết giữa nhóm phosphate và
acid aspartic bị thuỷ phân. Năng lượng được giải phóng từ quá trình
dephosphoryl (dephosphorylate) này sẽ làm thay đổi cấu trúc của bơm lần thứ hai
làm cho 2 ion K+ được đưa vào bên trong tế bào.
b. Vận chuyển chủ động thứ phát (secondary active transport)
-
Trong hình thức vận chuyển này năng lượng tồn trữ do sự khác biệt về gradient
nồng độ của ion Na+ được sử dụng để vận chuyển các chất đi ngược lại chiều
gradient nồng độ của chúng qua màng.
-
Bơm natri duy trì một sự khác biệt lớn về nồng độ ion Na+ hai
bên màng bào tương, nếu có một con đường qua đó cho phép các ion Na+ đi từ
nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp thì năng lượng tồn trữ do sự khác
biệt về nồng độ của Na+ sẽ được chuyển thành động năng để giúp vận
chuyển một chất khác đi ngược lại chiều gradient nồng độ của chất đó.
-
Sự chênh lệch về nồng độ ion Na+ hai bên màng càng lớn thì sự vận chuyển
chủ động thứ phát xảy ra càng nhanh.
3.4.3. Hình
thức vận chuyển bằng các túi
*Hiện tượng
nhập bào
-
Thành phần vật chất ngoại bào được đưa vào trong các túi được tạo thành từ sự
lõm vào của màng tế bào
-
Trong bào tương các túi nhập bào sẽ hoà lẫn với lysosome, các thành phần trong
túi nhập bào sẽ bị thủy phân bởi các enzyme và các đơn phân sẽ được đưa vào
trong dịch nội bào.
+ Hiện tượng thực bào: Bào tương và
màng tế bào tạo thành các giả túc ôm lấy vật thể bên ngoài tế bào để vùi vật
thể này vào trong lòng bào tương, tại đây vật thể được bọc trong lớp màng xuất
phát từ màng bào tương và được gọi là túi thực bào (phagocytic vesicle) hay
phagosome.

+ Hiện tượng
ẩm bào:
-
Hiện tượng qua đó các dịch ngoại bào và các phân tử hòa tan ở phía ngoài tế bào
được đưa vào bên trong tế bào. Đây là chức năng được thấy ở mọi loại tế bào của
cơ thể.
-
Ẩm bào được thực hiện đơn giản qua sự lỏm vào của màng bào tương để tạo nên túi
ẩm bào (pinocytic vesicle) để mang các hạt dịch vào trong lòng bào tương.

+ Hiện tượng nhập bào qua trung gian receptor: Hiện tượng này diễn ra
tương tự như hiện tượng ẩm bào nhưng có tính chọn lọc cao, trong đó tế bào lựa
chọn các phân tử hay các vật thể đặc hiệu để đưa vào trong bào tương, nhờ đó
mặc dầu nồng độ của chúng trong dịch ngoại bào rất thấp nhưng chúng vẫn có thể
đi được vào bên trong tế bào thông qua các protein xuyên màng đóng vai trò
receptor đặc hiệu cho chúng trên màng bào tương.
* Hiện tượng thải bào
- Hiện tượng thải bào là
hiện tượng các cấu trúc được gọi là túi tiết (secretory vesicle) được tạo thành
trong lòng bào tương tiến tới và hòa nhập màng của túi vào màng bào tương để
đưa các thành phần bên trong túi vào dịch ngoại bào.
II.Tế bào chất và các bào quan
Cấu trúc và chức năng các bào quan của tế bào nhân thực
|
Bào quan
|
Cấu trúc
|
Chức năng
|
|
Ti
thể
|
Màng
kép
|
Hô
hấp tế bào
|
|
Lục
lạp
|
Màng
kép
|
Quang
hợp
|
|
Lưới
nội chất trơn
|
Màng
đơn
|
Vận
chuyển nội bào, chuyển hoá lipit, đường
|
|
Lưới
nội chất hạt
|
Màng đơn có gắn ribôxôm
|
Vận
chuyển nội bào
Tổng
hợp protein
|
|
Bộ
máy Gôngi
|
Màng
đơn
|
Đóng
gói, chế tiết các sản phẩm protein, glicôprôtein
|
|
Lizôxôm
|
Màng
đơn,dạng bóng
|
Tiêu
hoá nội bào
|
|
Không
bào
|
Màng
đơn, dạng bóng
|
Tạo
sức trương, dự trữ các chất
|
|
Ribôxôm
|
Không
màng
|
Tổng
hợp prôtêin
|
|
Trung
thể
|
Không
màng
|
Phân
bào
|
III.
Nhân tế bào
1.
Cấu trúc của nhân
Nhân là nơi định khu của vật chất chứa thông tin di
truyền ( NST) cho nên có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tế bào. Mỗi tế bào
thường có một nhân. Có trường hợp tế bào có nhiều nhân ví dụ tế bào gan có 2
hoặc 3 nhân, hợp bào cơ vân có hàng trăm nhân là do các tế bào liên kết mất màng
ngăn, chung nhau khối tế bào chất.Nhân của của hồng cầu ở động vật có vú bị
tiêu biến 9 có tác dụng tăng cường thể tích chứa hêmôglôbin và giảm tiêu phí
năng lượng) do đó chúng mất khả năng sinh sản. Kích thước của nhân thường tương
ứng với kích thước của tế bào
-
Màng nhân: Màng
nhân là màng lipoprotein kép( 2 lớp) gồm lớp ngoài và lớp trong cách nhau một
khoảng gian màng. Màng nhân có nhiều lỗ.
-
Các lỗ xuyên qua
cả hai màng được dùng để vận chuyển các chất như các ARN, ribôxôm,….ra tế bào
chất hoặc vận chuyển các prôtêin từ tế bào chất vào nhân. Trong tiến trình phân
bào, màng nhân mất đi ở kỳ đầu, tạo điều kiện cho sự phân li của nhiễm sắc thể
về 2 cực và được tái tạo ở kỳ cuối để khu trú các nhiễm sắc thể
-
Trong nhân có dịch
nhân gồm có nước, các chất vô cơ và hữu cơ có độ nhớt cao, chứa hai cấu thành
quan trọng là chất nhiễm sắc và nhân con
-
Chất nhiễm sắc :
Trong thời kỳ phân bào chất nhiễm sắc xoắn và cô đặc lại tạo nên nhiễm sắc thể
để dễ dàng phân li về 2 tế bào con.
-
Nhân con: Mỗi nhân
thường chứa nmootj nhân con( còn được gọi là hạch nhân ).Nhân con là cấu trúc
không có màng bao bọc được cấu tạo gồm rARN, protein và ADN. Ở kỳ đầu của quá
trình phân bào, nhân con mất đi cùng với màng nhân và được tái tạo ở kỳ cuối.
Nhân con là nơi tổng hợp rARN và tích luỹ ribôxôm của tế bào.
2. Chức năng của nhân
Nhân là nơi chứa nhiễm sắc thể, chứa AND vật chất mang
thông tin di truyền của toàn bộ cơ thể do đó nó điều khiển hoạt đông sống của
tế bào. Trong nhân diễn ra quá trình sao chép mã: AND mẹ được sao chép
thành các AND con và thông qua sự phân
đôi tế bào, AND sẽ được di truyền qua thế hệ tế bào.
- Trong nhân còn diễn ra quá trình phiên mã tổng hợp
các dạng ARN cần thiết cho sự dịch mã để tổng hợp protein, thể hiện thông tin
di truyền từ kiểu gen đến kiểu hình
Câu hỏi
Câu 1: So sánh
tế bào của nhóm sinh vật chưa hoàn chỉnh( Procaryotae) với tế bào của nhóm sinh vật có
nhân hoàn chỉnh ( Eucaryotae)
Câu 2:So sánh
về hình thức tổ chức cơ thể của nhóm sinh vật chưa có cấu tạo tế bào( Vi rut)
và nhóm sinh vật có cấu tạo tế bào với nhân chưa hoàn chỉnh( Procarytae: Gồm vi
khuẩn và vi khuẩn lam).
Câu 3: Trình
bày cấu tạo đại thể của tế bào ở cơ thể đa bào nêu những điểm giống nhau và
khác nhau giwuax tế bào thực vật và tế bào động vật từ đó em có nhận xét gì về sự
giống nhau và khác nhau đó?
Câu 4: Vẽ sơ đồ
cấu trúc màng nguyên sinh chất và cho biết chức năng của những thành phần tham
gia cấu trúc màng
Câu 5: Hãy cho
biết trong tế bào nhân thực những bộ phận nào có cấu trúc màng đơn hoặc màng
kép.
Câu 6: Thế nào
là vận chuyển thụ động, vận chuyển chủ động các chất qua màng tế bào? Phân biệt
vận chuyển chủ động và vận chuyển thụ động cho ví dụ minh hoạ?
IV - Chu kì tế bào, các hình thức phân chia tế
bào nhân thực (Eucaryote). Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phân bào bình thường và
không bình thường, ý nghĩa sinh học và khả năng ứng dụng sự phân chia tế bào
trong công nghệ sinh học.
1. Chu kì tế bào
Ở sinh vật nhân chuẩn sự
sinh sản của tế bào là một quá trình sinh trưởng, phân chia nhân và phân chia tế
bào mang tính chu kì, quá trình đó gọi là chu kì tế bào. Nói cách khác chu kì tế
bào là hoạt động có tính chu kì và sự thay đổi trạng thái tế bào trongthời gian
từ lần phân bào này đến lần phân bào tiếp theo.
Thời gian của chu kì tế bào
tuỳ thuộc từng loại tế bào trong cơ thể và tuỳ thuộc từng loại tế bào. Ví dụ như
chu kì các tế bào ở gian đoạn sớm phôi chỉ 15 – 20 phút, trong khi đó tế bào ruột cứ 1 ngày phân chia 2 lần, tế bào gan phân bào
2 lần trong 1 năm, còn tế bào thần kinh ở cơ thể người trưởng thành hầu như không
phân bào. Thông thường chu kì của đa số tế bào kéo dài trên 20 giờ. Chu kì tế bào
diễn ra qua các quá trình sinh trưởng, phân chia nhân, phân chia tế bào chất và
kết thúc là sự phân chia tế bào.

Có thể chia
chu kì tế bào thành 4 pha: G1, S, G2 và M. Ba pha đầu gọi là giai đoạn nghỉ hay
gian kì (interphase).
- G1 là pha tiếp diễn sau nguyên phân. Các
nhiễm sắc thể (NST) duỗi xoắn chuyển sang trạng thái kéo dài, đồng thời có những
biến đổi dẫn đến sự khởi đầu sao chép ADN. Độ dài pha G1 liên quan đến hàm lượng
prôtêin có trong tế bào.
Pha này quan trọng đối với chu kì tế bào
vì những biến đổi về tốc độ sinh sản tế bào liên quan đến những biến đổi pha
G1. Cuối pha G1 có 1 thời điểm được gọi là điểm kiểm soát (điểm R). Nếu tế bào
vượt qua điểm R mới tiếp tục đi vào pha S và diễn ra nguyên phân.
- S là pha tổng hợp: xảy ra sự tổng hợp
ADN, ARN, prôtêin, ATP... Ở pha S vật liệu di truyền được nhân đôi, còn có sự
nhân đôi trung tử, có vai trò đối với sự hình thành thoi phân bào sau này và các
quá trình tổng hợp nhiều hợp chất cao phân tử, các hợp chất giàu năng lượng.
- G2: các NST cuộn xoắn lại để chuẩn bị
cho nguyên phân, việc tổng hợp ARN và prôtêin là cần thiết để hoàn thành G2. Một
sự kiện quan trọng trong G2 là việc tổng hợp prôtêin tubulin. Sự trùng hợp hoá
tubulin tạo thành các vi ống của bộ máy thoi tơ để phân li NST và nhân con
trong nguyên phân và giảm phân.
- M: Là pha nguyên phân, tạo ra 2 tế bào
mới. Nếu là giảm phân sẽ tạo ra 4 tế bào đơn bội, sau 2 lần phân chia liên tiếp.
2. Các hình thức phân chia tế bào nhân thực (Ecaryote)
2.1. Nguyên phân
Là hình thức phân bào nguyên nhiễm, nghĩa
là từ 1 tế bào mẹ qua nguyên phân cho 2 tế bào con đều có bộ NST như ở tế bào mẹ.
Trong quá trình nguyên phân xảy ra sự phân
chia nhân gồm 4 kì và phân chia tế bào chất.

Khi bắt đầu nguyên phân hai trung tử phân
li về 2 cực của tế bào và cùng với sao phân bào (ở tế bào động vật) bao gồm các
sợi toả ra mọi hướng từ xung quanh trung tử
là những bộ phận cơ bản của trung tâm phân bào. Các sợi cực được hình thành và
kéo dài nối liền 2 sao tạo thành thoi phân bào.
Màng nhân và nhân con bị tiêu biến trong
quá trình nguyên phân và chúng lại được tái hiện ở thời điểm cuối của sự phân
chia nhân.
Khi bước vào nguyên phân, các nhiễm sắc
thể kép bắt đầu co ngắn, đóng xoắn, có hình thái rõ rệt và đính vào các sợi của
thoi phân bào ở tâm động. Sau đó chúng tiếp tục co ngắn cho tới khi đóng xoắn cực
đại và tập trung thành một hàng ở mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào. Tiếp
theo, từng NST kép tách ở tâm động thành 2 NST đơn phân li về 2 cực nhờ sự co rút
của sợi thoi phân bào. Khi di chuyển tới 2 cực, sau khi hình thành 2 nhân con,
các NST dãn xoắn dài ra ở dạng mảnh dần thành sợi nhiễm sắc ở kì trung gian.
- Phân chia tế bào chất.
Trong
thực tế phân chia nhân và tế bào chất là 2 quá trình liên tục đan xen vào nhau.
Diễn ra rõ nhất là ở kì cuối. Điểm khác nhau cơ bản trong sự phân chia tế bào
chất ở tế bào động vật là sự hình thành eo thắt ở giữa tế bào. Còn ở tế bào thực
vật là sự hình thành vách ngăn từ trung tâm đi ra ngoài tế bào.
2.2. Giảm
phân.
Đây
là hình thức phân bào xảy ra qua 2 lần phân chia liên tiếp ở tế bào sinh dục chín dẫn tới kết quả là hình thành
các giao tử có bộ NST đơn bội.

Quá trình
giảm phân.
- Giảm phân 1.
Ở
kì đầu, các NST kép xoắn, co ngắn, đính vào màng nhân sắp xếp định hướng. Sau đó
diễn ra sự tiếp hợp cặp đôi của các NST kép tương đồng suốt theo chiều dọc và có
thể diễn ra sự trao đổi chéo giữa các nhiễm sắc tử không phải là chị em. Sự
trao đổi những đoạn tương ứng trong cặp tương đồng đã đưa đến sự hoán vi giữa các
gen tương ứng, do đó sẽ tạo ra sự tái tổ hợp của các gen không tương ứng. Tiếp
theo là sự tách rời các NST trong cặp tương đồng và NST tách khỏi màng nhân.
Đầu
kì giữa, từng cặp NST kép tương đồng tập trung và xếp song song ở mặt phẳng xích
đạo của thoi phân bào.
Ở kì sau, Các NST kép tương đồng phân li độc lập về 2 cực
của tế bào.
Kì
cuối, hai nhân mới được tao thành đều chứa bộ NST đơn bội kép. Sự phân chia tế
bào chất diễn ra hình thành 2 tế bào con tuy đều chứa bộ NST đơn bội kép nhưng
lại khác nhau về nguồn gốc và cả cấu trúc.
Sau
kì cuối 1 là kì trung gian diễn ra rất nhanh, trong thời điểm này không xảy ra
chao đổi chéo ADN và nhân đôi NST.
- Giảm phân 2.
Diễn
ra nhanh chóng hơn nhiều so với lần 1và cũng trải qua 4 kì. Ở kì đầu thấy rõ số
NST kép đơn bội. Đến kì giữa, NST kép xếp thành 1 hàng trên mặt phẳng xích đạo
của thoi phân bào. Mỗi NST kép gắn với 2 sợi tách biệt của thoi phân bào. Đến kì
sau sự phân chia ở tâm động đã tách hoàn toàn 2 nhiễm sắc tử
chị
em và mỗi chiếc đi về 1 cực của tế bào. Kết thúc là kì cuối, các nhân mới được
tạo thành đều chứa n bộ NST đơn và sự phân chia tế bào chất được hoàn thành, tạo
ra các tế bào con.
Kết
quả cuối cùng qua 2 lần phân bào liên tiếp từ 1 tế bào ban đầu lưỡng bội đã tạo
ra 4 tế bào con có bộ NST đơn bội.
3. Các yếu
tố ảnh hưởng đến sự phân bào
Về cơ chế điều hoà sự sinh sản của tế bào, đặc biệt là
phân bào có tơ hiên nay vẫn đang tiếp tục nghiên cứu. Có thể trình bày một số
giả thuyết như sau:
-
Tỉ lệ nhân và tế bào chất.
Sự
trao đổi chất giữa nhân và tế bào chất là quá trình rất cần thiết cho tồn tại và
phát triển của tế bào bình thường. Do đó khi thể tích nhân tăng nhanh hơn diện tích màng nhân là một tác nhân kích
thích sự phân chia nhân để bề mặt của nó tăng lên, phục hồi tỉ lệ đặc trưng cho
từng loại tế bào.
-
Sự tham gia của hoocmon: Hoocmon là một yếu tố gây phân bào. Ví dụ: hoocmon buồng
trứng ảnh hưởng tới sự sinh sản của tế bào trứng, tuyến sữa, màng nhày tử cung.
Hoocmon hạ não tăng cường kích thích sự phân bào của tuyến giáp. Ngoài ra các
ion hoá tri 2 như Mg2+, Zn2+ cũng tham gia điều hoà sinh
sản tế bào.
-
Một số tác nhân khác: Các nhân tố môi trường bên ngoài hay bên trong tế bào cũng
có ảnh hưởng lớn đến sự phân chia của tế bào, đặc biệt làm cho tế bào bị tổn thương vật chất di truyền và gây đột biến gen và
NST.
4. Ý nghĩa
và khả năng ứng dụng sự phân chia tế bào trong công nghệ tế bào
4.1. Ý nghĩa
nguyên phân
Nguyên
phân là phương thức sinh sản của tế bào và của những sinh vật đơn bào nhân thực.
Cơ thể đa bào lớn lên nhờ quá trinh nguyên phân. Nguyên phân là phương thức
truyền đạt và ổn định bộ NST đặc trưng cho loài qua các thế hệ tế bào trong quá
trình phát sinh cá thể và qua các thế hệ cơ thể ở những loài sinh sản sinh dưỡng.
Sinh
trưởng của các mô, cơ quan trongcơ thể nhờ chủ yếu vào sự tăng số lượng tế bào
qua nguyên phân. Nguyên phân tạo điều kiện cho sự thay thế các tế bào, tạo nên
sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể.
Phương
thức giâm, chiết, ghép cành và kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào được tiến hành dựa
trên cơ sở của quá trình nguyên phân.
4.2. Ý nghĩa
giảm phân
Nhờ
có giảm phân, giao tử được tạo thành mang bộ NST đơn bội (n) và qua thụ tinh giữa
giao tử đực và cái mà bộ NST lưỡng bội (2n) được phục hồi. Nếu không có giảm phân
thì cứ sau 1 lần thụ tinh bộ NST của loài lại tăng về số lượng. Như vậy các quá
trình nguyên phân, giảm phân và thụ tinh đã đảm bảo duy trì ổn định bộ NST đặc
trưng cho loài sinh sản hữu tính qua các thế
hệ cơ thể, nhờ đó thông tin di truyền được truyền đạt ổn định qua các đời, đảm
bảo cho thế hệ sau mang những đặc điểm của thế hệ trước.
Sự
phân li độc lập và trao đổi chéo đều của các cặp NST tương đồng trong giảm phân
đã tạo ra nhiều giao tử khác nhau về nguồn gốc, cấu trúc NST cùng với sự kết hợp
ngẫu nhiên của các loại giao tử qua thụ tinh đã tạo ra các hợp tử mang những tổ
hợp NST khác nhau. Đây chính là cơ sở tế bào để giải thích nguyên nhân tạo ra sự
đa dạng về kiểu gen và kiểu hình đưa đến sự xuất hiện nguồn biến dị tổ hợp
phongphú ở những loài sinh sản hữu tính. Loại biến dị này là nguồn nguyên liệu
dồi dào cho quá trình tiến hoá và chon giống. Qua đó cho thấy, sinh sản hữu tính
có nhiều ưu thế so với sinh sản vô tính và nó được xem là một bước tiến hoá
quan trọng về mặt sinh snr của sinh giới. Vì vậy, người ta thường dùng phương
pháp lai hữu tính để tạo ra các biến dị tổ
hợp nhằm khắc phục cho công tác chon giống.
4.3. Ứng
dụng trong công nghệ tế bào.
Hiểu
được bản chất của nguyên phân, các nhà khoa học đã ứng dụng vào kĩ thuật nuôi cấy
mô. Việc nuôi cấy trong ống nghiêm các mô và tế bào thực vật có hiệu quả lớn:
nhân nhanh các giống tốt, nhân giống sạch virut, góp phần chọn, tạo dòng tế bào
thực vật có khả năng chống chịu sâu, bệnh. Kĩ thuật này đã được dùng rộng rãi
trong công tác giống cây trồng.
Cơ
chế của nuôi cấy mô: một tế bào tách ra khỏi cây, trong điều kiện môi trường
thích hợp, có thể nguyên phân thành 2 tế bào, sau đó lại không ngừng phân tạo
thành một khối tế bào, đồng thời diễn ra sự phân hoá tạo ra các tổ chức khác
nhau hình thành các bộ phận rễ, mầm... dần dần phát triển thành một cây hoà
chỉnh. Các tế bào cuủa cây đều mang thôngtin di truyền như nhau chủ yếu được
lưu trữ trong ADN ở NST, từ đó kiểm soát và điều khiển toàn bộ quá trình sinh
trưởng và phát triển từ tế bào tạo thành cây hoàn chỉnh như khi nào ra rễ hay
nảy mầm, khi nào ra hoa hay kết quả, có đặc tính sinh lý , hình thái, giải phẫn
ra sao....
Bằng
kĩ thuật này hiện nay đã đem lại rất nhiều kết quả trong viêc duy trì, cải tiến
các giống cây trồng.
Từ
mô sẹo trong nuôi cấy invitro( từ tế bào thuần hoặc tế bào lai, hoặc tế bào
được chuyển gen...) sẽ tái sinh ra các chồi non, chồi non được cắt nhỏ thành
nhiều đoạn, mỗi đoạn lại tái sinh thành chồi, chồi lại được căt nhỏ lại được
tái snh... và như vậy các nhà tạo giống có thể tạo nên một ‘’ngân hàng cây
giống’’ theo đơn đặt hàng của thị trường. Hiện nay hàng loạt cây giống như cây
lương thực, cây thực phẩm, cây dược liệu, cây hoa, cây ăn trái cây rừng...đang
được sản xuất theo quy mô công nghiệp bằng công nghệ vi nhân giống. Công nghệ
vi nhân giống có ý nghĩa kinh tế cao, nhất là đối với các cây sinh sản chậm(
cây rừng, cây gỗ, cây ăn trái, cây dược liệu), hoặc đối với cây có giá trị đại
chúng cần cung cấp số lượng cây giống rất nhiều trong thời gian ngắn như cây hoa
( hoa hồng, phong lan...)
Câu hỏi trả
lời
Câu 1 : So sánh nguyên phân và giảm
phân
Câu 2 : Sự nguyên phân ở thực vật
và động vật giống nhau và khác nhau như thế nào ?
Câu 3 : Cơ chế đảm bảo tính ổn định
của bộ nhiễm sắc thể trong quá trình nguyên phân
Câu 4 : trình bày hoạt động nhiễm
sắc thể trong quá trình nguyên phân và giảm phân. Nêu ý nghĩa sinh học của quá
trình nguyên phân và giảm phân ?
Câu 5 : tại sao nói tế bào là đơn
vị cấu trúc và chức năng của sự sống ?
Bình Yên ngày 20 tháng 9 năm 2010
Người thực hiện
Lý Thị Phương